Đăng nhập
Đăng nhập
Thông báo mới
Xem tất cả thông báo
Tổ chuyên môn - Nghiệp vụ








Thông tin hữu ích
Tỷ giá vàng
Tỷ giá ngoại tệ
Dự báo thời tiết
Số online: 24  Lượt truy cập: 243667
Liên kết website
Liên kết
Tổ Ngữ Văn
Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài)

Ngày cập nhật: 29-12-2017 10:41 AM

Truyện Vợ chồng A Phủ” được rút ra từ tập Truyện Tây Bắc và là truyện ngắn xuất sắc nhất của tập sách này. Truyện có hai phần: phần đầu kể chuyện Mị và A Phủ ở Hồng Ngài; phần sau là thời kỳ của Phiềng Sa, hai người gặp cách mạng và trở thành du kích. Nhưng chương trình văn lớp 12 chỉ trích dạy phần đầu của tác phẩm.

     Phỏng vấn: Thưa nhà văn, những năm đầu thập niên năm mươi, cuộc kháng chiến chống Pháp của dân tộc ta đã có những thay đổi về chiến lược. Tinh thần và sức mạnh bất khuất của cả nước được nuôi dưỡng và phát triển trong những cánh rừng đại ngàn Tây Bắc. Sống với những ngọn thác dữ dội, những núi đá hùng vĩ, những vạt rừng âm u là các dân tộc tiểu số anh em. Đời sống sinh hoạt của họ khác nhau nhưng tinh thần kháng Pháp thì là một. Nhưng dường như đời sống của người Mèo ( H’Mông) đã để lại ấn tượng sâu rộng trong ông?

     Nhà văn Tô Hoài: Năm 1952, khi các hoạt động kháng Pháp tăng mạnh trên chiến trường, quân ta đã dần đuổi quân Pháp khỏi Sơn La, Lai Châu, tôi là phóng viên của báo Cứu Quốc, báo Đại Đoàn Kết bây giờ, được cử đi viết về những căn cứ cách mạng và đời sống ở vùng mới giải phóng. Tây Bắc với những cánh rừng bạt ngàn là nơi sinh sống chủ yếu của người Mường, Thái, Mèo... và một số dân tộc nhỏ khác.

Trong các dân tộc anh em, người Mèo thường sinh sống ở những vùng núi cao nhất và xa nhất. Đấy cũng là những nơi có căn cứ cách mạng sớm nhất. Người Mèo chống Pháp với tinh thần bất khuất và kiên cường kỳ lạ. Tôi chọn đi viết về đời sống dân tộc Mèo là vì vậy.

Tôi đi từ núi này sang núi khác, từ vùng Mèo Nghĩa Lộ đến Lai Châu trong 5 tháng trời. Đường đi rất khó khăn, hiểm trở, thiếu thốn đủ thứ cộng với khí lạnh ở vùng Tây Bắc, nhưng may mắn đến bản nào cũng gặp cán bộ cách mạng.

Từ 1950 – 1951, tôi và Nam Cao đã từng đi viết và sống với đồng bào miền núi. Khó nhất là sự cách biệt ngôn ngữ, Phải có chung tiếng nói mới có thể hiểu được nhau. Người Mèo có ngôn ngữ riêng, tuy nhiên vốn từ vựng của họ ít, nên tôi không mấy khó khăn khi học tiếng của họ. Chỉ cần vài chục từ là có thể giao tiếp được.

Tuy vậy vì ở vùng núi cao và xa nên đời sống của họ trăm bề thiếu thốn. Hạt muối quý hơn vàng. Có nơi 5 – 6 tháng không ăn tí muối nào. Khi bản có việc thịt bò, ngựa đều phải ăn nhạt. Tôi sống trong sự thiếu thốn của người Mèo 5 tháng, đi sâu tìm hiểu đời sống, sinh hoạt của họ, viết được một số truyện ngắn, trong đó có Vợ chồng A Phủ. Thực ra trong ngôn ngữ Mèo không có chữ Phủ, chỉ có chữ Phử thôi.

Phỏng vấn: Đời sống văn hóa của người mèo giờ đây vẫn mới lạ và bí ẩn đối với chúng ta. Họ có những truyền thống văn hóa độc đáo. Nhưng trong Vợ chồng A Phủ, thân phận người đàn bà thật không khác gì con trâu con ngựa. Điều đó có thật hay chỉ là một cốt chuyện hư cấu của tác giả?

Nhà văn Tô Hoài: Câu chuyện trong Vợ chồng A Phủ là câu chuyện hoàn toàn có thực. Tức là nguyên mẫu ở ngoài đời sống. Đợt ấy tôi đi công tác từ Tà Sùa sang Phù Yên (Sơn La). Ở Tà Sùa tôi gặp một cặp vợ chồng người Mèo vào đúng dịp tết truyền thống của họ, tức khoảng tháng 11 âm lịch, trước tết nguyên đán của ta một tháng. Tết người Mèo kéo dài cả tháng.

Tôi cùng đôi vợ chồng nhà kia đi ăn Tết từ bản này sang bản khác. Ăn tết và uống rượu, rồi anh chồng kể chuyện. Anh kể về cuộc đời anh, cuộc đời chị vợ, về chuyện thống lý ở bản anh làm tay sai cho Pháp, rất tàn ác, cho nên anh phải đưa vợ chạy trốn đi nơi khác. Câu chuyện của đôi vợ chồng nọ cộng với vốn hiểu biết của tôi về đời sống của người Mèo làm cho cốt truyện cứ sáng tỏ dần. Và tôi bắt tay vào viết.

Phỏng vấn: Nhân vật chính của truyện là cô Mị. Mở đầu truyện, Mị đã xuất hiện như một ấn tượng buồn, khi “quay sợi, thái cỏ ngựa, dệt vải, chẻ củi hay đi cõng nước” bao giờ “cô ấy cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi”. Cô ấy không phải là con gái Pá Tra, vì con gái Pá Tra không bao giờ biết khổ để buồn. Nhưng chỉ cần một câu trả lời: cô ấy là vợ A Sử, con trai thống lý Pá Tra, là người ta đã hiểu ra nỗi buồn ấy là đương nhiên. Tại sao vậy?

Nhà văn Tô Hoài: Trên danh nghĩa, Mị là vợ A Sử, là con dâu của Pá Tra. Là dâu nhà giàu ắt phải sung sướng, nhưng đó chỉ là cái lý thông thường của người Kinh ta. Với các cô gái Mèo, làm dâu nhà giàu là cả một nỗi kinh hoàng. Mị là con dâu gạt nợ của nhà Pá Tra, món nợ đâu từ thời kiếp nào, từ ngày cha mẹ Mị lấy nhau, ngày Mị chưa chào đời. Mị phải đem thân mình phục dịch, làm trâu ngựa cho nhà Pá Tra vì những việc không do Mị làm, những món nợ không vay bởi Mị. Đó là do những hủ tục của người Mèo, và bọn thống lý đã lợi dụng những thủ tục đó để bóc lột dân chúng. Vậy thân phận Mị, nỗi khổ của Mị không thể là trường hợp cá biệt.

Phỏng vấn: Tình tiết Mị bị bắt mang đi gây nhiều thắc mắc, Mị bị bắt vì bước ra ngoài sau khi “quơ tay lên” gặp “ngón tay đeo nhẫn” của người yêu. Có một bạn đọc đã từng viết trên báo chí, tại sao sau đó, trong suốt cuộc đời Mị, không bao giờ cô gặp lại người yêu nữa? Anh ta biến đi đâu?

Nhà văn Tô Hoài: Tôi có đọc bài báo đó và tiện đây tôi xin trả lời. Trước hết muốn hiểu được tình tiết này phải hiểu được phong tục của người Mèo. Dù sống ở trên cao và còn nhiều hủ tục, nhưng trai gái thì được tự do tìm hiểu, yêu đương nhau. Chữ “người yêu” là chữ của người Kinh tôi dùng để chỉ một người bạn trai nào đó hay đánh pao với nhau. Mị có tình cảm với anh ta nhưng không phải mặn mà, không thể nói là hứa hẹn… Vậy nên sau này trong đêm tình mùa xuân, bồi hồi nghe tiếng sáo gọi bạn yêu, thì cũng không phải Mị nhớ lại người có “ngón tay đeo nhẫn” ngày xưa.

Phỏng vấn: Đau khổ vì bị bắt làm dâu nhà thống lý Pá Tra, có lúc Mị đã không chịu chấp nhận, Mị đã tìm đến cái chết. Nhưng thương cha, Mị “đành ném nắm lá ngón xuống đất” để trở lại nhà Pá Tra. Nhưng rồi từng ngày Mị dường như đã quen được với khổ nhục, Mị cảm thấy “mình cũng là con trâu, mình cũng là con ngựa”, thậm chí không cả bằng con trâu ngựa, vì con trâu ngựa còn có lúc nghỉ “đứng gãi chân, đứng nhai cỏ” mà Mị thì không. Cách đối xử của nhà Pá Tra khiến Mị ngự trị bởi ý nghĩ ấy. Vậy là hoàn cảnh đã thực sự chôn vùi Mị khiến cô không còn nhớ đến “con người tự do” của mình trước kia…

Nhà văn Tô Hoài: Không phải là Mị không bao giờ nhớ đến “con người tự do” của mình nữa, mà cái chính là không có một tác nhân nào gợi cho Mị nhớ đến điều đó. Đời sống tủi nhục, mỏi mòn đã hủy hoại Mị, cô ngày càng bị thu hẹp lại trong cái xó buồn bã, nhẫn nhịn: “Mỗi ngày Mị càng không nói, lầm lũi như con rùa nuôi trong xó nhà”. Mị là con rùa, là tù nhân. Ở buồng nơi Mị nằm chỉ có một chiếc cửa sổ nhỏ “lỗ vuông vuông bằng bàn tay”. Trong căn buồng đó, Mị được chốc lát một mình, vậy cô có thể suy nghĩ, có thể nhớ lại quá khứ lắm chứ. Nhưng không, cái cửa sổ đó quá bé, và lúc nào nhìn ra Mị chỉ có thể thấy “trăng trắng, không biết là sương hay nắng”. Đấy là cái mờ mịt của tâm hồn, của số kiếp Mị. Chỉ có chết đi Mị mới thôi nhìn thấy cái mờ mịt ở nơi cái lỗ vuông kia. Như vậy rõ ràng đời sống tủi nhục và tăm tối đã lấn át và che giấu đi con người của Mị, con người trẻ trung, ham yêu, ham sống ngày trước, đến mỗi Mị cũng không nhận ra. Mị là cô gái có cá tính, nhưng thời gian và khổ hạnh ở nhà Pá Tra đã làm cá tính ấy không phải bị mài mòn mà bị nhận chìm hẳn. Đó là sự tha hóa, vào thời Mị, là sự tha hóa do xã hội.

Phỏng vấn: Vâng, Mị đã hoàn toàn là một cái bóng. Tưởng chừng cái bóng mãi mãi dật dờ, quên hết yêu thương, thù hận. Nhưng không, trong đêm mùa xuân, Mị được hồi sinh. Khoảnh khắc ngắn ngủi nhưng vô cùng lộng lẫy. Mị sống lại những âm thanh náo nức, Mị “thiết tha, bồi hồi” nghe tiếng sáo gọi bạn tình.

Mày có con trai con gái rồi

Mày đi làm nương

Ta không có con trai con gái

Ta đi tìm người yêu

Nhà văn Tô Hoài: Khi viết đoạn này tôi thích lắm. Tôi muốn nhấn mạnh và mô tả tâm hồn Mị. Cô gái vì nợ của cha mẹ bị bắt về trình ma nhà Pá Tra, bị đày đọa cả thể xác lẫn tâm hồn, giờ đây, trong đêm mùa xuân, nghe tiếng sáo từ xa vọng lại, khí trời rạo rực, niềm vui tràn khắp bản làng, dưới tác động của rượu, Mị thấy lòng thiết tha bồi hồi, được “sống về ngày trước”.

Cuộc sống trâu ngựa ở nhà thống lý Pá Tra không còn đáng sợ với Mị nữa. Mị trở lại là thiếu nữ ngày xưa “uốn chiếc lá trên môi, thổi lá cũng hay như thổi sáo” và “có biết bao nhiêu người mê, ngày đêm đã thổi sáo đi theo”.

Ký ức tưởng như vùi lấp chợt bừng sáng khiến Mị “ thấy phơi phới trở lại, trong lòng đột nhiên vui sướng”. Toàn bộ sức sống, toàn bộ cảm xúc thanh xuân bấy lâu bị vùi lấp trỗi dậy và Mị biết Mị còn trẻ, trẻ lắm. Mị muốn đi chơi. Nhưng tại sao Mị không đi chơi luôn mà lại “từ từ bước vào buồng”? Sự trở lại chậm chạp với cái lỗ vuông “mờ mờ, trăng trắng” giúp Mị bất ngờ liên hệ quá khứ với hiện tại. Mị hiểu rõ rằng “A Sử và Mị, không có lòng với nhau mà vẫn phải ở với nhau”. Đấy là hiện thực, chưa bao giờ Mị cảm đến tận cùng nỗi đau đớn và đọa đày của số phận mình như thế. Mà giờ đó, Mị vẫn phải là vợ A Sử, là con dâu nhà Pá Tra, vậy thì niềm vui nho nhỏ, khát vọng thoáng chốc mang đầy “tính người” ấy không thể cứu vớt được Mị khỏi số phận của cô… Mị lại nghĩ đến nắm lá ngón. Nhưng tiếng sáo gọi bạn yêu vẫn lơ lửng bay ngoài đường, tiếng sáo mê hoặc, dẫn dụ Mị. Mị không còn biết gì khác nữa. Tinh thần Mị đã thăng hoa đến một cõi khác, thoát hẳn đời sống cô, con người cô, và cô mặc kệ A Sử như không nhìn thấy A Sử…

                                                                                                       (Sưu tầm)





Bản để in Bản in  Về trang đầu  Về trang đầu



  THÔNG TIN CÙNG LOẠI KHÁC:

  CẢM XÚC BẤT CHỢT (08-12-2017)
  Gánh hàng rong (06-12-2017)
  DÀN BÀI NLXH (04-12-2017)


 
 
 
 
 
 
Trang: 
/